Khí mang sử dụng trong sắc ký khí thì tùy thuộc vào cột. Đối với cột dài nhồi chật hoặc cột mao quản dài thì phải lựa chọn khí mang có độ nhớt thấp. Để phân tích nhanh cũng cần phải chú ý đến độ nhớt của khí mang. Thời gian phân tích trên cột tách sắc ký khí mao quản – phim mỏng khi dùng Hydro làm khí mang sẽ ngắn bằng 1/9 thời gian khi dùng Nito.
Khi lựa chọn khí mang cần để ý đến detector sử dụng, độ tinh khiết của khí mang và yêu cầu tách, sử dụng phối hợp với các phương thức khác. Khí mang phải không được thay đổi trạng thái lý hóa học khi đi qua máy sắc ký khí.

Các điểm cần chú ý khi sử dụng khí mang cho các detectơ khác nhau
- Detectơ độ dẫn (TCD) (cũng như detectơ dây đốt nóng và detectơ nhiệt) cần phải sử dụng khí mang có độ dẫn cao như hydrô, hêli. Trong đó khí hêli có ưu điểm là không nguy hiểm nhưng giá thành cao. Còn trong sắc ký điều chế, cần phải dùng lượng khí lớn, thích hợp nhất là dùng khí nitơ với giá rẻ, nhưng phải chú ý đến độ nhạy và khoảng tuyến tính của nó.
- Detectơ ion hóa ngọn lửa ( FID ) có thể vận hành với tất cả các khí vô cơ làm khí mang trừ ôxy. Do giá thành rẻ, không nguy hiểm nên khí Nitơ thường được sử dụng. Nhưng khi kết hợp với thiết bị khác, ví dụ, kết hợp sắc ký khí – khối phổ (GC – MS), thì phải sử dụng Hêli làm khí mang. Khác với detectơ độ dẫn (TCD), delectơ FID khi vận hành cần phải dùng thêm hydrô và không khí để đốt cháy ngọn lửa.
- Detectơ cộng kết điện tử (ECD) có thể vận hành với các khí mang khác nhau, khi làm việc theo kiểu dòng một chiều có thể dùng nitơ, vận hành theo kiểu xung có thể dùng argon bổ sung 5% mêtan sẽ cho kết quả tốt hơn.
Các đặc điểm của một số khí thường được sử dụng trong sắc ký khí.
- Khí Hydrô: khí hydrô thương mại thường đạt đủ tiêu chuẩn cho sắc ký. Trong phân tích lượng vết, khi sử dụng pha tĩnh dễ bị hỏng và trong sắc ký điều chế cần thiết phải làm sạch và khô khí. Khi sử dụng hydrô làm khí mang, cần dùng nitơ làm khí bảo vệ thổi qụa cột trưóc. Các ống dẫn khí hydro phải đủ dầy, tốt nhất là dùng ống kim loại nhỏ vừa kín vừa tiết kiệm khí. Hydrô dùng cho các cột tách làm việc dưới 200 độ C vẫn tỏ ra trơ. Trong các phòng thí nghiệm hiện đại dùng khá phổ biến với máy sản xuất Hydro với công suất từ 125ml/phút đến 223ml/phút. Khi dùng máy này, lúc đầu phải chờ cho máy đạt áp suất nhất định mới đưa khí vào cột tách. Trong phòng sắc ký sử dụng khí hydrô phái có máy dò độ hở hydrô và cấm lửa.
- Khí Hêli: là khí trơ hóa học rất thích hợp cho sắc ký khí nhiệt độ cao. Khi sừdụng detectơ ion hóa bằng tia phóng xạ phải có hêli tinh khiết.
- Khí Argon: cũng như các khí trơ khiỉc, argon trên cơ sở không có hoạt tính hóa học được dùng cho sắc ký khí ớ nhiệt độ cao. Do độ nhớt của argon cao, yêu cầu về dây dẫn khi sử dụng nó không gặp khó khăn lắm. Khí argon ngày càng được sử dụng nhiều làm khí mang.
- Khí Nitơ: do không nguy hiếm, giá rẻ và dể dàng làm tinh khiết nên nitơ được sử dụng rất nhiều trong sắc ký khí. Nhưng cần chú ý với detectơ TCD vì giá trị dẫn nhiệt của nitơ rất gần với độ dẫn của nhiều khí hoặc hơi chất hữu cơ nên có trường hợp pic sắc ký có thể ngược. Trong phân tích định lượng, hệ số hiệu chỉnh đặc trưng sẽ xê dịch rất mạnh khỏi I khi dùng khí mang có độ dẫn cao.
- Không khí và Ôxy: độ tinh khiết của ôxy thương mại cũng đạt yêu cầu cho sắc ký khí, nhưng cần phải sấy khô vì rất dễ lẫn nước trong bom đựng khí.
Không khí nén có thể lấy từ bom khí hoăr bơm nén kiểu dầu. Nếu dùng bơm nén thì phải chú ý không cho hơi dầu đi vào thiết bị sắc ký.
